Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác dụng Cao dê. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác dụng Cao dê. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Các bài thuốc từ Dê núi

Hỏi: Trước nay tôi vẫn thường dùng thịt dê, nghe nhiều người nói đây là vị thuốc có tác dụng bồi bổ sức khỏe rất tốt. Xin bác sĩ cho biết một số công dụng cụ thể? (Lê Văn Kha - Củ Chi)

Trả lời: Tên khoa học Capra sp. Thuộc họ Sừng rỗng Bovidae.

a. Mô tả con vật:
Ở nước ta hiện nay có ba giống dê chính là dê Việt Nam, dê Ấn Ðộ và dê Mông Cổ. Gốc giống dê nuôi vốn là giống dê núi Capra prisca, sau giống dê này được thuần hóa, lai tạp với nhiều giống khác như dê núi Ấn Ðộ Capra aegagrus.
Dê Việt Nam chưa rõ nguồn gốc ở đâu, có hình vóc nhỏ, chỉ cao chừng 50cm, mình dẹ?, chân nhỏ, lông nhiều màu sắc, tai đứng, sừng hơi cong nhọn đưa về phía sau, dài từ 8-15cm, thỉnh thoảng có con sừng nhú hơi cong về phía trước. Dê đực mình ngắn, vạm vỡ, to hơn dê cái, đầu cổ và sống lưng có lông dài cứng, chùm râu cằm rậm, sừng dài, khi già có thể xoắn lại.
Dê Ấn Ðộ do người Pháp và Ấn Ðộ mang vào nước ta vào đầu thế kỷ 20, đã thích nghi với khí hậu Việt Nam. Dê Ấn Ðộ có thân dài và cao 80-90cm, trông mảnh khảnh, mắt thường lồi lên, tai to và rũ xuống, sừng ngắn hay không có sừng. Lông màu sẫm đen hoặc xám nhạt, vú to.
Dê Mông Cổ mới nhập vào nước ta khoảng vài chục năm gần đây. Mình vừa phải, to hơn dê ta nhưng nhỏ hơn dê Ấn Ðộ. Tai thẳng và mảnh, sừng dài, thẳng, hơi chếch về phía sau. Lông có màu trắng đen. Ðặc biệt lông có hai thứ: Lông thô dài cứng thò ra bên ngoài; Lông tơ ngắn mềm ở bên trong có thể dùng làm len.
b. Phân bố, thu hoạch và chế biến
Dê được nuôi từ lâu đời, có thể phát triển ở tất cả các vùng, nhất là trung du và miền núi, rừng núi đá như Cao Bằng, Lạng Sơn, Nam Ðịnh, Hà Nam, Ninh Bình. Dê đực 2-3 tuổi nhảy cái tốt nhất, dê cái 4-5 tháng đã có khả năng sinh sản nhưng tốt nhất là nên đợi đến 7-8 tháng; Dê cái 5-6 tuổi nên cho nghỉ đẻ. Tốt nhất là cho dê đẻ vào thời kỳ 2-4 năm tuổi. Dê chửa ít nhất 140 ngày, nhiều nhất 157 ngày thì đẻ (trung bình 147-150 ngày). Dê Việt Nam mỗi lần thường đẻ 2 con, có khi 3, ít khi 1 con. Dê Mông Cổ thường chỉ đẻ 1 con. Một năm dê có thể đẻ 2 lứa.
Hầu như tất cả các bộ phận của con dê (thịt dê, tiết dê, gan, dạ dày, tinh hoàn...) đều được dùng làm thuốc. Gần đây có nơi nấu cao dê hoặc chỉ dùng xương, hoặc dùng cả thịt lẫn xương (bỏ ruột gan) để nấu cao dê toàn tính.

c. Công dụng và liều dùng
Tiết dê (dương huyết): Máu dê vừa chảy ra cho ngay vào rượu 40 độ (1 phần tiết, 3-4 phần rượu), lắc đều. Ngày uống 20-40ml rượu này làm thuốc bổ huyết, chữa choáng váng, chóng mặt, nhức đầu, đau lưng. Theo tài liệu cổ, tiết dê có tác dụng giải những chất độc thuộc khoáng vật.

Thịt dê (dương nhục): Theo tài liệu cổ, thịt dê có vị ngọt, tính rất nóng, không độc, vào ba kinh tỳ, vị và can, có tác dụng trợ dương, bổ tinh huyết, dùng chữa ho lao, gầy yếu, phụ nữ sau khi sinh gầy yếu, khí hư, cạn sữa, huyết hôi đều dùng được. Dùng thịt tươi nấu chín cùng một số vị thuốc khác như xuyên khung, mỗi ngày dùng từ 40-60g.
Gan dê (dương can): Chữa những trường hợp can phong hư nhiệt, mắt mờ đỏ, sau khi khỏi sốt bị mờ mắt. Mỗi ngày ăn 30-60g nấu chín, dùng riêng hay phối hợp với một số vị thuốc khác.

Tinh hoàn dê: Trị thận yếu, tinh hoạt. Ngày dùng 25-30g, ngâm rượu uống.
Dạ dày dê: Chữa gầy yếu, ăn vào bị nôn mửa. Ngày uống 20-30g.
Ðơn thuốc có những vị thuốc lấy từ dê

Cao dê toàn tính: Chữa thiếu máu, hay đau bụng, gầy còm, hay đau mỏi lưng. Toàn con dê, mổ bỏ ruột, cạo lông, nấu với nước nhiều lần. Nước nấu được lọc trong, cô thành cao mềm. Ngày uống 5-10g.
 Cao dê Ninh Bình - cho tình xuân viên mãn

Dương quy sinh khương dương nhục thang: Chữa phụ nữ sau khi sinh xong suy yếu, gầy còm, kém ăn, ít sữa (trích ở sách Kim Quỹ): Ðương quy 5g, sinh khương 10g, thịt dê 40g. Nấu chín kỹ, chia làm hai lần ăn trong ngày.
Trẻ con hay ăn đất: Thịt dê 20g nấu kỹ lấy nước cho uống.
Chữa đau nhức xương: Thịt dê 100g, hoài sơn 100g, gạo tẻ một ít, nấu cháo thật nhừ ăn trong ngày.

Nguyên dương đại bổ (thuốc do Câu lạc bộ y học dân tộc TPHCM sản xuất từ tháng 4/1981 theo đơn của cố lương y Nguyễn Kiều): Viên hoàn 10g/hoàn, gồm 10 vị: Xương thịt dê non sấy khô, đậu đen, thổ phục linh, rau má, mạch nha, ngải cứu, cám nếp, diêm sinh, phèn chua, tất cả tán nhỏ luyện với mật ong thành hoàn. Có tác dụng bồi bổ toàn thân cho trẻ em, người cao tuổi, ngày dùng 1-2 hoàn.
Chú ý: Không nên dùng nhầm con dê núi Capra prisca và con sơn dương có tên khoa học Capri conrnis sumatresis, cũng gọi là dê núi hay dê rừng, thường ở núi đá vôi. Cả hai con này đều được dùng làm thuốc như dê nhà nhưng hiếm và quý hơn.

GS. ÐỖ TẤT LỢI

Tác dụng của Cao Dê

Theo y học cổ truyền, hầu hết các bộ phận của dê (cả dê rừng và dê nhà) như thịt, xương, nội tạng... đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm từ loài gia súc này đều có tính ấm, nóng nên những người có thể chất thiên nhiệt, người bị sốt do cảm mạo không nên dùng.


Sau đây là tác dụng chữa bệnh của dê
1. Thịt dê (dương nhục)  



Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ huyết, ích khí, ôn trung, noãn thận, dùng chữa các chứng thiếu máu, gầy yếu, suy nhược cơ thể, chán ăn, đau bụng do hư hàn hoặc suy giảm khả năng tình dục do thận dương hư.
- Suy nhược, đau bụng do hư hàn: Thịt dê 250 g thái miếng, hầm thật nhừ với 30 g đương quy và 15 g sinh khương, chắt nước cốt uống.
- Tỳ vị hư nhược, chán ăn, nôn và buồn nôn do hư hàn: Thịt dê 250 g thái vụn, nấu với 180 g gạo thành cháo, ăn vài lần trong ngày.
- Liệt dương, di tinh, di niệu, đau lưng, mỏi gối do thận dương hư: Thịt dê 250 g luộc chín, thái miếng, trộn đều với 15 g tỏi (giã nát) cùng các gia vị khác để ăn.


2. Gan dê (dương can)
Vị ngọt, tính bình, có công dung bổ huyết, ích can và làm sáng mắt. Gan dê được dùng chữa các bệnh sau:
- Suy nhược cơ thể, chóng mặt, thị lực giảm sút do can huyết hư: Gan dê 150 g thái miếng, nấu với 50 g gạo tẻ thành cháo, ăn vài lần trong ngày.
- Can hoả vượng (biểu hiện là đau đầu chóng mặt, mắt đỏ): Gan dê 60 g, cúc hoa 10 g, cốc tinh thảo 10 g, sắc kỹ lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày.

3. Thận dê (dương thận)
Vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tuỷ, được dùng chữa các bệnh sau:
- Liệt dương, xuất tinh sớm: Thận dê một đôi, nhục thung dung 12 g, kỷ tử 10 g, thục địa 10 g, ba kích 8 g. Thịt dê làm sạch, thái miếng, hầm với các vị thuốc (được gói trong túi vải). Bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, ăn nóng.
- Gầy yếu, suy nhược, ù điếc, di tinh, liệt dương, hậu sản hư lãnh: Thận dê 100 g, thịt dê 100 g, kỷ tử 50 g, gạo tẻ 50 g, gia vị vừa đủ, tất cả nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.
- Đau lưng mạn tính: Thận dê một đôi thái miếng, hầm với đậu đen 60 g, đỗ trọng 12 g, tiểu hồi hương 3 g, sinh khương 3 lát. Bỏ bã thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày.

4. Tinh hoàn dê (dương thạch tử)
Vị ngọt mặn, tính bình, có công dụng bổ thận tráng dương, ích tinh. Các ứng dụng cụ thể:
- Chữa đau lưng do thận ư, di tinh, liệt dương, khí hư, sa đì, tiểu đường: Dùng tinh hoàn dê nấu cháo ăn thường xuyên.
- Chữa liệt dương: Tinh hoàn dê một đôi, nhung hươu 3 g, ngâm với 500 ml rượu trắng trong nửa tháng. Uống mỗi ngày 15-20 ml.
Hoặc: tinh hoàn dê 1 đôi làm sạch, bỏ màng, thái miếng, nấu với nước hầm xương lợn trong 5 phút, chế thêm gia vị, ăn nóng.

5. Dạ dày dê (dương đỗ)
Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ hư, kiện kỳ, ích vị. Ứng dụng cụ thể:
- Chữa viêm đại tràng và viêm dạ dày mạn tính thể tỳ vị hư hàn: Dạ dày dê một cái hầm với gừng tươi, riềng và nhục quế (lượng vừa đủ), chia ăn vài lần trong ngày.
- Chữa cảm mạo, ra nhiều mồ hôi: Dạ dày dê một cái hầm với 50 g đậu đen và 40 hoàng kỳ, chia ăn 2 lần trong ngày.

6. Phổi dê (dương phế)
Vị ngọt, tính ấm có công dụng bổ phế khí, điều thuỷ đạo, được dùng chữa các bệnh sau:
- Ho kéo dài do phế hư, tiểu tiện bất lợi: Phổi dê 500 g thái vụn, luộc kỹ lấy nước, cho thêm 150 g thịt dê (thái miếng) và 100 g gạo tẻ, nấu nhừ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.
- Bổ phổi, phòng polyp mũi: Phổi dê một lá, bạch truật 120 g, nhục thung dung, thông thảo, can khương, xuyên khung mỗi thứ 60 g. Tất cả sấy khô, tán bột, uống với nước cháo ngày 2 lần, mỗi lần 5-10 g.

7. Xương dê (dương cốt)
Vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận, cường gân cốt.
- Chữa phong thấp, gầy yếu do lao lực, đầu choáng, mắt hoa: Xương dê 1 kg hầm với 60 g gạo tẻ thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.
- Đau lưng mạn tính: Xương dê 1 kg, trần bì 6 g, riềng 6 g, thảo quả 2 quả, gừng tươi 3 g. Hầm lấy nước cốt, nấu cháo ăn.
- Bồi dưỡng cho trẻ chậm lớn: Xương sống dê 0,5 kg hầm kỹ với nhục thung dung 10 g, hoài sơn  100 g , chia ăn vài lần trong ngày.

8.cao xương dê dâm dương hoắc
Bổ sung calci, photpho, acid amin cần thiết cho sự duy trì và phát triển của cơ thể. Giúp cơ thể chở nên cường tráng. Bổ thận mạnh gân cốt, giảm đau nhức xương khớp, phục hồi và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ sau khi sinh, nam giới suy giảm chức năng sinh lý.

9. Tiết dê (dương huyết)
Vị mặn, tính bình, có công dụng chỉ huyết, khứ ứ.
- Chữa thổ huyết, chảy máu cam: Dùng tiết dê tươi cho uống 1-2 chén nhỏ.
- Chữa trị xuất huyết: Dùng tiết dê luộc chín, ăn với dấm chua.
- Cầm máu vết thương: Tiết dê (đốt thành than) 5 phần, tóc rối (đốt thành than) 5 phần, bột hoàng cầm 1 phần, trộn đều rồi rắc vào vết thương.
Ngoài ra, các bộ phận khác của dê cũng được dùng làm thuốc, chẳng hạn như:
- Tim: Bổ tâm, giải uất, chữa chứng đau tức, hồi hộp, đánh trống ngực.
- Tuỵ: Nhuận phế, chỉ đới, chữa ho kinh niên và khí hư.
- Bàng quang: Chữa di niệu.
- Tuyến giáp trạng: Chữa chứng khí anh (bụng đầy tức, họng như có dị vật, khạc không được, nuốt không trôi).
- Da: Ích khí, bổ hư, làm ấm tỳ vị, chữa chứng hư lao, lưng đau gối mỏi, sản hậu hư lãnh.
- Sữa: Nhuận táo, bổ hư, trị các chứng suy nhược cơ thể, tiểu đường, loét miệng.
- Mật: Thanh hoả, giải độc, chữa đau mắt đỏ, thổ huyết do lao, viêm họng cấp tính, hoàng đản, táo bón, viêm loét da do nhiễm độc.
- Mỡ: Bổ hư, nhuận táo, hoá độc, chữa khô da, nhọt độc.

ThS Hoàng Khánh Hiển, Khoa Học & Đời Sống